Tìm kiếm nhanh:

Tội cố ý gây thương tích

Ngày đăng: 15-12-2012
Điều 104 Bộ luật hình sự quy định: "người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong những trường hợp sau thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm", tham khảo thêm điều 104 Bộ luật hình sự
  
Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là hành vi cố ý làm cho người khác bị thương hoặc tổn hại đến sức khỏe. Tội phạm xam phạm quyền được bảo vệ về sức khỏe của con người.
Người phạm tội thực hiện các hành vi tác động vào cơ thể của người khác làm cho người đó bị thương, bị tổn hại sức khỏe. Các hành vi như: đâm, chém, bắn, đấm đá, đốt cháy, đầu độc, cho chó cắn… Có trường hợp người phạm tội bắt người bị hịa tự làm tổn hại cho sức khỏe của mình như tự chọc vào mắt mình, uống thuốc phá thai, chặt ngón tay… Nếu người nào tự gây thiệt hại cho sức khỏe của chính mình thì cần làm rõ động cơ của hành vi đó, tùy từng trường hợp có thể xem xét trách nhiệm hình sự theo tội khác như tội trốn tránh nhiệm vụ (Điều 326).
 
Hành vi gây thương tích hoặc gay tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 11% trở lên hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây thì cũng phạm tội này:
 
- Dùng hung khí nguy hiểm hoặc dùng thủ đoạn gây nguy hại cho nhiều người. Hung khí nguy hiểm như: dao, lê, súng đạn, lựu đạn, thuốc nổ, axít…Dùng thủ đoạn có thể gay nguy hại cho nhiều người như đốt nhà lúc đêm khuya khi mọi người đang ngủ làm nhiều người bị bỏng…
 
- Gây cố tật nhẹ cho nạn nhân: cố tật là những tật để lại trên cơ thể con người sau khi đã chữa khỏi vết thương. Đó là tình trạng cơ thể bị thay đổi do bị tội phạm xâm hại và sự thay đôie này theo suốt cả cuộc đời họ, như sau khi bị thương, chân đi cà nhắc. Cố tật nhẹ là những tật để lại không bị ảnh hưởng hoặc ảnh hưởng không đáng kể sự hoạt động bình thường của nạn nhân so với trước khi người phạm tội gây thương tích. Ví dụ: sau khi bị đánhgẫy tay, đã được bó bột nhưng tay vẫn không thẳng như bình thường và có một ngón tay không co duỗi được.
 
- Phạm tội nhiều lần đối với cùng một gười hoặc đối với nhiều người: phạm tội nhiều lần đối với cùng một người là từ hai lần trở lên mà những lần phạm tội trướcđó chưa bị xử lý; phạm tội đối với nhiều người là từ hai người trở lên trong cùng một lần phạm tội.
 
- Phạm tội đối với trẻ em, phụ nữ đang có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ: trẻ em là người chưa đủ 16 tuổi căn cứ vào giấy khai sinh. Phụ nữ dang có thai có thể do người phạm tội nhận biết được hoặc nghe người khác nói. Việc xác định có thai hay không phải căn cứ và kết luận của bác sĩ. Người già yếu là người từ 60 tuổi trở lên, sinh hoạt, đi lại khó khăn… Người đau yếu là người đang bị bệnh tật, có thể điều trị ở bệnh viện, cở sở y tế tư nhân hoặc tại nhà riêng của họ. Người không có khả năng tự vệ: người tuy tuổi không nhiều nhưng vóc dáng bé nhỏ, tính cách nhút nhát, sợ sệt, người bị tật nguyền; phụ nữ đi ở khu vực vắng, trong đêm tối một mình…
 
- Đối với ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy gióa, cô giáo của mình: Ông, bà gồm ông, bà nội (người sinh ra bố), ông, bà ngoại (người sinh ra mẹ); Cha, mẹ được hiểu là cha mẹ đẻ hoặc cha mẹ nuôi. Cha mẹ đẻ là người đã sinh ra người phạm tội. Cha, mẹ nuôi là người nhận người phạm tội lầm con nuôi được pháp luật thừa nhận; Người nuôi dưỡng là người chăm sóc, quản lý, giáo dục người phạm tội như vai trò của bố mẹ mình; Thầy giáo, cô giáo của mình là người trực tiếp giảng dạy mình về văn hoá, chuyên môn, nghề nghiệp…
 
- Có tổ chức là phạm tội có từ hai người trở lên khi thực hiện tội phạm giữa họ có sự phân công trách nhiệm và cấu kết chặt chẽ với nhau.
 
- Trong thời gian đang bị tạm giữ, tạm giam hoặc đang bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục: để xác định thời gian này cần căn cứ vào quyết định bằng văn bản của cơ quan có thẩm quyền.
 
- Thuê gây thương tích hoặc gây thương tích thuê: thuê gây thương tích cho nạn nhân là thủ phạm không trực tiếp hành động mà giấu mặt dùng tiền hoặc lợi ích vật chất, tinh thần để yêu cầu người khác thực hiện hành vi phạm tội. Gây thương tích thuê là hành vi của một người nào đó trong ý thức ban đầu không muốn gây thương tích hoặc tổn thương cho nạn nhân nhưng vì người khác thuê, nên thực hiện theo yêu cầu của người thuê thì sẽ nhận được những lợi ích nhất định nên họ đã thực hiện hành vi phạm tội.
 
- Có tính chất côn đồ hoặc tái phạm nguy hiểm: phạm tội có tính chất côn đồ là trường hợp tội phạm có tính hung hãn, coi thường tính mạng, sức khỏe của người khác; gây thương tích không có nguyên cớ hoặc phạm tội vì lý do nhỏ nhen; đam, đánh người dã man,… Tái phạm nguy hiểm là trường hợp người phạm tội trước đây đã bị kết án về tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng do lỗi cố ý, chưa được xoá án tích mà lại phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác. Hoặc trường hợp đã tái phạm, chưa được xoá án tích mà lại phạm này.
 
- Để cản trở người thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân: gây thương tích cho người thi hành công vụ là trường hợp nạn nhân là người đang thi hành nhiệm vụ do cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội giao cho vì lợi ích chung của Nhà nước, xã hội như thầy giáo đang giảng bài, cán bộ đang coi thi, cán bộ thuế đang thu thuế, cán bộ kiểm lâm đang bảo vệ rừng… Gây thương tích vì lý do công vụ của nạn nhân thể hiện nhiệm vụ mà nạn nhân được giao có ảnh hưởng trực tiếp đến người phạm tội nên thủ phạm đã chủ động gây thương tích cho nạn nhân. Hành vi phạm tội có thể xảy ra trước hoặc sau khi nạn nhân thực thi công vụ.
 
- Người phạm tội với động cơ nhằm cản trở nạn nhân thi hành công vụ, hoặc có thể là để trả thù nạn nhân vì nạn nhân đã thi hành công vụ đó.
 
- Trường hợp cố ý gây thương tích dẫn đến chét người là người phạm tội về mặt chủ quan chỉ muốn gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe của người đó chứ không mông muốn nạn nhân chết. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là cấu thành vật chất nên phải xác định mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả xảy ra.
 
Chủ thể của tội phạm: người từ đủ 16 tuổi trở lên (khoản 1, 2) hoặc từ đủ 14 tuổi trở lên (khoản 3 và 4) có năng lực trách nhiệm hình sự.
 
Mặt chủ quan của tội phạm: tội phạm được thực hiện do lỗi cố ý trực tiếp.
 
Hình phạt: Điều luật quy định 4 khung hình phạt:
 
- Khung 1: quy định hình phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm áp dụng đối với trường hợp mà tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp phạm tội như phân tích trên.
 
- Khung 2: quy định hình phạt tù từ hai năm đến bảy năm áp dụng đối với trường hợp gây thương tích, cố tật từ 31% đến 60% hoặc từ 11% đến 30%, nhưng thuộc một trong mười trường hợp quy định ở khoản 1.
 
- Khung 3: quy định phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm áp dụng đối với trường hợp mức độ thương tật từ 61% trở lên hoặc dẫ đến chết người hoặc từ 31% đến 60%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ a đến k khoản 1 Điều này. Phạm tội dẫn đến chết người là trường hợp ý thức chủ quan của người phạm tội chỉ muốn gây thương tích hoặc gây tổn hại đến sức khỏe của nạn nhân, nhưng chẳng may nạn nhân chết, việc nạn nhân chết là ngoài ý muốn của người phạm tội. Phải xác định vì bị thương nặng nên nạn nhân chết chứ không phải nguyên nhân nào khác, ở đây cần phải làm rõ mối quan hệ nhân quả chết người với những thương tích của nạn nhân do người phạm tội gây ra.
 
- Khung 4: quy định hình phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân áp dụng đối với trường hợp phạm tội dẫn đến chết nhiều người hoặc trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác. Trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác là gây thương tích nặng hoặc tổn hại cho sức khỏe của 2 người trở lên (thương tật từ 61% trở lên); gây thương tích cho rất nhiều người; phạm tội vì động cơ đê hèn…
 
Một số vấn đề cần lưu ý: Để phân biệt tội giết người với tội cố ý gây thương tích dẫn đến hậu quả chết người, cần căn cứ vào hành vi phạm tội và công cụ thực hiện tội phạm. Phải xem xét tính nguy hiểm của công cụ, phương tiện được sử dụng; vị trí tấn công trên cơ thể nạn nhân; cường độ tấn công; thời gian, không gian thực hiện tội phạm. Dặc biệt là phải xem xét nhận thức chủ quan của người phạm tội đối với những yếu tố tạo nên khả năng gây ra hậu quả chết người và thái độ của họ đối với hậu quả đó.